Saturday, 10 December 2011

Phiếm - Tản Mạn Về Ông Ba Mươi

Tản Mạn Về Ông Ba Mươi






Tứ Diễm


Mặc dù chỉ đứng hạng ba trong tử vi Đông phương, (sau cả chú chuột nhắt lí lắc và chàng trâu khù khờ chậm chạp) nhưng hổ ta lại có nhiều biệt danh nhất.  Này nhé, ngoài "bí danh" là Dần trong lịch tử vi, hổ thường được gọi vắn tắt, đơn giản như: cọp, hổ, hùm hay tiger (tiếng Anh), tigre (tiếng Pháp).  Còn trang trọng hơn một chút thì là: ông Mễnh, ông Ba Mươi,  ông Kễnh, ông Mun, ông Cà Um, ....  Mà cũng lạ, tại sao lại chỉ có "ông Ba Mươi" mà chẳng có "bà Ba Mươi", "bà Cà Um",.. nhỉ?


Theo khoa học lẫn truyền thuyết dân gian, Hổ vốn có họ hàng với cả Sư Tử, Báo lẫn loài Mèo.  Cũng vì thế, Hổ được phép nhận danh hiệu "Chúa Tể Sơn Lâm" tại những nơi ông anh họ Sư Tử vắng mặt.  Tương truyền, Mèo chính là cô của Hổ.  Nên chẳng có chi đáng ngạc nhiên khi ta thấy Hổ khá rành rẽ những "bí kíp gia truyền" của họ nhà Mèo, ngoại trừ tài leo cây.  Có phải vì Mèo "dấu nghề", nên mới sinh chuyện xích mích với Hổ.  Khiến Mèo phải... vượt biên về sống chung với loài người.  Và cũng từ đó, họ nhà Mèo có thêm thói quen thích chôn dấu "mìn" sau khi hưởng đệ tứ khoái, phải thế chăng ?

Hổ thuộc loài động vật có xương sống, có vú.  Sinh và nuôi con bằng sữa.  Thoạt nhìn sơ qua, hổ ta khá giống ... mèo, chỉ có điều lớn và nặng hơn.  Có loại rất đô con nặng tới 384 kg.  Có loại mảnh mai hơn, chỉ nặng sơ sơ khoảng... 190 kg mà thôi.  Nhìn chung, hổ ta khá bảnh bao với bộ lông dầy mượt và mịn màng.  Mầu sắc thay đổi tùy theo loa.i.  Bạch hổ là loại hổ có  sắc lông mầu trắng, rất hiếm và quý.  Hổ đen oai vệ  với sắc lông đen tuyền. Còn được gọi là hắc hổ, cọp mun hay ông Mun.   Dữ và mạnh hơn cả là loại hổ lông mầu xám tro. Hay còn gọi cọp xám.  Nhưng nhiều nhất là loại hổ lông vàng vằn đen rất hùng dũng, oai phong nên  được dùng làm dấu hiệu "Cọp Đầu Vằn" cho riêng binh chủng Biệt Động Quân.   Ngoài các loại hổ vừa kể ra, đặc biệt còn có một loại hổ lông mầu xanh ở "Heman" trong .... vô tuyến truyền hình (TV), khá quen thuộc với quý vị nhi đồng.

Dù chẳng bao giờ đánh răng hay đi nha sĩ "clean" răng, hổ vẫn có hàm răng trắng và nhọn sắc để xé thịt sống.  Hình như chứng bệnh "sâu răng" cũng khiếp uy chúa sơn lâm nên không dám quấy rầy.  Đầu hổ tròn, "tóc tai" gọn ghẽ chứ không ... hippy như ông anh họ Sư Tử.  Tai vểnh và thính, có thể ve vẩy được để... đuổi ruồi khi nhàn rỗi.  Dù không được trời thương ban cho cặp mắt tròn xoe, đầy vẻ ngây thơ... cụ như mèo.  Nhưng, bù lại, đôi mắt lá răm hơi hí của hổ lại rất ăn nhịp với dáng vẻ oai vệ của vị chúa tể sơn lâm.  Phải chăng cũng vì cái vẻ oai phong lẫm liệt này mà các nàng hổ cái lại bị gán cho cái "nết"...."dữ như cọp cái" ?  Lông nheo hổ cụt lủn, bị lẫn với bộ lông dầy rậm.  Lông mày chỉ lưa thưa vài sợi, nên các nàng tiểu thư dòng họ hổ không cần dành thời gian trang điểm cho "cửa sổ linh hồn".  Mũi hổ hơi xẹp, tương tự như mũi mèo.  Mới thoáng nhìn cứ ngỡ hổ thuộc loại miệng nhỏ chúm chím.  Ngờ đâu, khi há to, hai hàm răng nhọn hoắt đều được phô bày khiến muông thú khiếp vía.  Đó là chưa kể đến mùi hôi bất hủ tỏa ra từ miệng hổ và tiếng gầm vang rất xa.  Phải chăng tên gọi "ông Cà Um" cũng phát xuất từ tiếng gầm này mà ra ?   Tuy không đến nỗi "mày râu nhẵn nhụi" như loài trâu.  Nhưng hổ ta chỉ có lác đác vài sợi râu mảnh và cứng mọc xòe hai bên mép làm duyên.  Có lẽ vì vậy mà hổ ta rất quý mấy sợi râu này; không tin bạn cứ ... "vuốt râu cọp" thử thì sẽ biết ngay.  Có lời đồn rằng râu hổ có thể dùng để chế ra một loại sâu làm bùa thư, ếm.  Chẳng hiểu có thật thế chăng ?  Bốn chân hổ khỏẹ  Bàn chân có đệm nhún và móng sắc nhọn tương tự như chân mèo.

Tương truyền, lưỡi và móng hổ chứa rất nhiều vi trùng.  Chẳng thế mà khi bị thương, hổ càng liếm thì càng khiến vết thương loét rộng và nhiễm độc nặng hơn.  Khi săn được hổ, người ta thường thui râu cọp và cẩn thận tránh không để vuốt hổ làm trầy da.  Thân hình hổ khá hấp dẫn, ngực nở, eo thon.  Dáng đi rất độc đáo.  Vừa uyển chuyển, mềm mại, vừa nhanh nhẹn, gọn gàng mà lại không kém phần hùng dũng, oai phong.  Đuôi hổ thon nhỏ dần về phần cuối, có một túm lông ở chót đuôi. Khi di chuyển, đuôi hổ ve vẩy nhịp nhàng theo chân bước làm tăng vẻ uyển chuyển của dáng đi.  Lúc rình mồi, hổ thu gọn đuôi vào sát thân mình.  Trước khi lao mình chồm tới chụp mồi, hổ có thói quen hất mạnh đuôi về phía trước.

Tính hổ ưa thay đổi nên không có hang ổ cố đi.nh.  Hổ thường sống đơn độc một mình.  Có khi sống quây quần cùng vợ con ở vùng rừng núi hay thảo nguyên cây bụi, trảng cỏ.  Mỗi lứa, hổ cái chỉ sinh được từ ba đến bốn con.  Nhưng, thường chỉ có một hay hai hổ con sống sót và trưởng thành.  Ngoại trừ khi chết vì già yếu, hầu như không có loại bệnh tật nào quật ngã được hổ.  Ngày trước, khi rừng rú còn hoang vắng, chưa bị loài người khai phá, hổ mặc sức mà sinh sản.
Càng về sau, số lượng hổ ngày càng ít dù không có "kế hoạch hóa gia đình".   Một phần vì đất đai bị khai phá khiến thú rừng không còn đất để sinh sống.  Phần nữa chính vì bị loài người ráo riết săn bắt để lấy lông và xương.  Khiến số hổ sinh ra không bù lại được với số hổ bị bắt, giết.   Vì thế, hiện nay, hầu hết các nước đều đặt ra những điều luật để ngăn chặn việc săn bắt bừa bãi có thể khiến tuyệt chủng loài hổ.  Lông hổ thuộc kỹ rất đẹp và là vật trang trí quý giá, đắt tiền.  Xương hổ là nguyên liệu chính để chế tạo môn thuốc Cao Hổ Cốt, được xem như vị thuốc chủ yếu bồi bổ gân cốt, thể lực.  Răng nanh hổ được nhiều người ưa chuộng, xem như món bùa hộ mạng khi xông pha ngoài trận mạc.  Cũng có khi hổ bị đánh bẫy bắt sống để đem bán cho các sở thú của nhiều quốc gia trên thế giới.  Hay bán cho những gánh xiếc để làm tập luyện làm trò cho khán giả giải trí.  Khi đã được thuần hóa, hổ như một chú mèo lớn, ngoan ngoãn tuân theo mệnh lệnh của chủ.  Tuy vậy, đôi lúc chàng ta trở chứng thì cũng rất nguy hiểm cho kẻ nào dám cả gan "vuốt râu cọp".

Tuy ưa thay đổi nơi ở, nhưng hổ lại khá bảo thủ trong đời sống lứa đôi.  Nếp sống một vợ, một chồng rất phổ biến trong xã hội loài hổ.   Cũng nhờ thế mà các nàng hổ cái dường như chưa bao giờ cần phải ... trổ tài "sư tử Hà Đông", hay ngậm ngùi vì "cái kiếp lấy chồng chung".  Trong khi sư tử đực có bộ mã bề ngoài oai phong lẫm liệt bao nhiêu, thì sư tử cái có bộ dáng khá xuềng xoàng.   Phải chăng vì thế mà cảnh "chồng chúa, vợ tôi" đã xảy ra.  Khiến sư tử cái phải nai sức ra săn bắt mồi trong khi sư tử đực chỉ nằm khểnh, chờ ... dành ăn với vợ con mình.  Tuy cùng dòng họ với sư tử, nhưng hổ lại không nhiễm thói xấu này.  Trong xã hội loài hổ, tương quan giữa hổ đực và hổ cái khá bình đẳng.  Ngay cả diện mạo bề ngoài giữa hai phái cũng không có sự chênh lệch quá rõ rệt.  Khiến thoạt nhìn khó biết rõ đó là "chàng" hay "nàng".  Ban ngày hổ thường cuộn mình ngủ kỹ, dành sức cho ... ca đêm.  Nên hiếm khi gặp hổ khi trời còn sáng (trừ khi vào sở thú xem cọp thì không kể).  Trời chạng vạng tối cũng là lúc ông Ba Mươi đủng đỉnh rời hang đi kiếm mồi.  Mắt hổ sáng, tai thính, mũi đánh hơi rất tài.  Bàn chân có đệm nhún nên di chuyển rất êm, thích hợp khi săn mồi trong bóng đêm.  Lúc gặp mồi, hổ thường lặng lẽ trườn đến gần, rồi bất ngờ nhảy tới vồ.  Tuy cùng họ, nhưng hổ không có tính ưa đỏng đảnh, thích vờn mồi như mèo.  Khi tấn công mồi, hổ thường dùng vuốt nhọn cấu mạnh vào dây thần kinh ở đầu khiến con mồi bị tê liệt.  Sau đó, hổ cắn cổ hút máu rồi xé thịt ăn, chỉ chừa xương.  Nhờ sức mạnh và tài chạy nhanh nên hổ có thể săn những con mồi nặng gấp đôi dễ dàng.  Vì vậy, lợn rừng, sơn dương, hươu nai, ... đều nằm trong danh sách "thực phẩm tươi sống" hàng ngày của gia đình hổ.  Chỉ những con hổ quá già yếu hay bị tàn tật không đủ sức rượt bắt mồi mới thường bắt trộm gia súc của người.  Thậm chí, có khi còn ăn cả thịt người nữa lúc quá đói.  Ngoài trường hợp này ra, hổ rất "kính nhi viễn chi" với loài người trừ lúc cần tự vệ.  Khi tấn công, tai hổ dựng đứng, cườm lông trắng sau tai lộ rõ.  Hai chân trước hơi chụm lại, thân mình khum khum, chân sau lấy tấn để lao mình phóng tới.  Còn lúc phòng thủ, hổ thường cụp tai xuống và há to miệng khoe đôi nanh sắc nhọn để ... dọa địch thủ.

Hổ ưa ăn thịt ươn, thối nhưng lại chẳng ... đánh răng nên hơi thở hổ có mùi hôi rất đáng sợ.  Phải chăng nhờ thế mà muông thú dễ dàng trốn lánh khi đánh hơi mùi hổ từ xa ?  Dù có họ hàng với mèo, nhưng hổ không biết leo cây.  Bù lại, hổ bơi lội rất giỏi, và hay xuống sông suối để tắm.  Kể cũng buồn cười. Tuy mèo chẳng bao giờ chịu nhúng chân vào nước nhưng khi nào cũng tươm tất, sạch sẽ, thơm tho.  Còn hổ, thì dù có thường xuyên tắm rửa, vẫn chẳng xua được "hương gây mùi nhớ" khủng khiếp.  Mỗi khi hổ há miệng ngáp thì mùi xú uế tỏa ra nồng nặc.  Tuy mang tật "hôi miệng", nhưng lỗ mũi hổ rất thính.   Nhờ vậy mà hổ đánh hơi rất tài, lại vốn rất tinh khôn nên khó mà gài bẫy để bắt hổ.  Khi gặp ánh đèn săn ban đêm, mắt các loài thú đều xanh, chỉ riêng mắt hổ là đỏ.  Nếu không muốn đụng chạm đến ông Ba Mươi, thợ săn nên lẹ làng rút lui.  Còn không, cần phải bắn trúng vào chính giữa hai chấm đỏ đó.  Nếu bắn trật sẽ thậm cấp chí nguy.  Theo kinh nghiệm, sau khi bắn dù trúng hay trật, người bắn cần tránh sang một bên ngay lập tức để tránh trường hợp hổ còn sức chồm tới.

Tuy không sống lân cận cùng người, hổ thường được nhắc đến trong nhiều câu tục ngữ thông du.ng.   Câu "hùm dữ chẳng ăn thịt con" nhắc đến tình thương con bao la của các bậc cha mẹ.  Dù con cái có lầm lỗi gì thì cha mẹ cũng tha thứ bỏ qua.  Câu "cọp chết để da, người chết để tiếng" khuyên ta phải biết rèn luyện để trở thành người hữu ích, làm rạng rỡ cho cha mẹ.  Câu "sa vào miệng cọp" ám chỉ tình trạng nguy hiểm, ngặt nghèo.  Còn khi gặp cảnh oái oăm, tiến tới cũng khổ mà rút lui cũng chẳng xong thì câu "lỡ leo lưng cọp" rất thích hợp.  Khi thất cơ lỡ vận, có tài nhưng bị kẻ tiểu nhân cản trở khiến không thi thố được tài năng, người ta thường tự than rằng "hổ xuống bình nguyên bị chó lờn".  Câu "hổ phụ sinh hổ tử, lân mẫu xuất lân nhi" thường được dùng để khen tặng khi con cháu xuâ sắc làm vinh hiển tông môn.  Còn câu "hổ phụ sinh khuyển tử" ngụ ý chê trách dòng họ suy vong, con cháu suy đồi.  Diễn tả sự cạnh tranh thi đua tài nghệ, người ta thường dùng câu "long tranh, hổ đấu".  Câu "hổ khẩu dư sanh" có thể diễn nôm na là đã ở miệng cọp mà còn sống sót.  Ý nói thoát khỏi nơi nguy hiểm.  Ám chỉ sự anh hùng, bất khuất thì có câu "hổ tử hùng tâm tại" (hổ chết nhưng tính anh hùng vẫn còn).  Tương tự như câu "bần cùng sinh đạo tặc" là "hổ ngạ phùng nhân thực, nhân cùng khởi đạo tâm".  Hiểu nôm na là cọp đói gặp người thì ăn thịt, người túng thì sinh lòng trộm cướp.  Còn ám chỉ những kẻ ưa dựa uy danh người khác thì có câu "hồ dã hổ uy" (cáo mượn oai hùm). Kế "điệu hổ ly sơn" (dụ cọp ra khỏi núi) thường được áp dụng trong binh pháp khi dụ địch rời khỏi sào huyệt để tiêu ệt.  Về kinh nghiệm xử thế, các bậc tiền nhân đã gói gọn trong câu: "họa hổ, họa bì, nan họa cốt.  Tri nhân, tri diện, bất tri tâm", khuyên ta nên cẩn trọng trong việc giao thiệp, đừng vội cả tin theo bề ngoài mà có ngày phải hối tiếc.  Câu "dưỡng hổ di hoạn" (nuôi cọp khiến sau này gặp nạn) có ý nghĩa tương tự như "nuôi ong tay áo, nuôi khỉ dòm nhà"; thường áp dụng trong trường hợp tự mình gieo họa cho mình.  Để chế riễu những kẻ ưa khiếp sợ uy lực thì có câu "đàm hổ biến sắc" (nghe nói đến cọp thì đổi sắc mặt).  Hay chê trách những kẻ bất tài, không thể làm việc lớn được thì người ta thường dùng câu "họa hổ loại cẩu" (vẽ con cọp mà lại giống con chó).  Câu "nam thực như hổ, nữ thực như miêu" diễn tả xác đáng lối ăn uống của hai phe.   Nhưng cũng có khi được đem ra dùng để ... nhắc khéo phe kẹp tóc nên ăn uống từ tốn, nhỏ nhẹ theo kiểu "cọng giá cắn đôi".  Chứ đừng trổ tài "nam thực như hổ, nữ thực ... hơn nam" thì phe húi cua phải chạy dài, chào thua.

Trong chế độ phong kiến ngày trước, khi rồng được dùng làm biểu tượng dành riêng cho vua chúa.  Thì hổ thường được xem như biểu tượng của các bậc quan la.i.   Điều này có thể thấy rõ trong những từ ngữ còn lưu truyền đến ngày nay.  Như "hổ trướng" ám chỉ trướng phủ của vị chủ tướng khi xuất chinh. "Hổ phù" chỉ lệnh bài của chủ tướng, có hình đầu hổ.  Còn từ "long đàm, hổ huyệt" (đầm của rồng, sào huyệt của hổ) ám chỉ nơi quan trọng, căn cứ địa nguy hiểm. "Hổ khẩu" nghĩa đen là miệng hổ, nghĩa bóng chỉ nơi trọng yếu.   "Hổ cứ" cũng được dùng để chỉ nơi quan trọng, nguy hiểm, địa thế hiểm yếu.  Từ "hổ lang" thường dùng để ám chỉ lòng dạ độc ác như cọp và chó sói. Còn những vị thư sinh ngày xưa thì chỉ mơ ước một ngày "bảng hổ đề danh" để có thể "vi quy bái tổ", làm  rạng rỡ tông môn.

Ngoài ra, chẳng hiểu tại sao lại có nhiều từ kép dù có chữ "hổ", "cọp" nhưng chẳng liên can chi đến loài hổ.  Như "hổ phách" do nhựa thông kết tụ trong lòng đất lâu ngày tạo ra.  "Hổ mang", "hổ lửa" là tên gọi của một loại rắn có nọc độc.  "Hổ ngươi" có nghĩa tương tự như e thẹn, mắc cở.  "Hổ thẹn" thường dùng diễn tả cảm giác ăn năn sau làm một việc xấu.  "Hổ lốn" chỉ sự lộn xộn, không thứ tự.  "Xấu hổ" có nghĩa tương đồng với "hổ ngươi". "Cọp dê" chỉ việc bắt chước, sao y bản chính.  Kể cũng vui, chẳng hiểu sao từ chữ "copier" (tiếng Pháp), người ta lại bắt "dê" đi theo "cọp" để chế thành chữ kép "cọp dê".  Tương tự, chữ "xem cọp", "coi cọp" thường dùng khi đi xem hát ... lậu vé. 

Dù không cần "quảng cáo", "lăng xê", hổ ta vẫn thường "lọt mắt xanh" của các vị nghệ nhân.  Chẳng thế mà có rất nhiều tác phẩm đã được sáng tác xoay quanh chủ đề chính về hổ.   Chẳng những nét uy nghi, oai vệ của hổ trong từng dáng điệu, cử chỉ được lột tả trong các bức tranh đủ thể loa.i.  Thậm chí, ngay cả lúc chàng hổ ngồi lẩn thẩn bắt cá bên bờ suối cũng được tô vẽ để trở thành những bức tranh thật thơ mộng diễn tả cảnh hổ ngồi... ngắm trăng bên suối.  Chẳng hiểu khi đó hổ ta thật sự thả hồn vơ vẩn cùng nàng thơ hay chỉ mải mê dõi theo các nàng cá ? 

Ngoài ra, hổ còn được chọn làm "người mẫu" để nghệ nhân điêu khắc lên gỗ, đá, ngọc hay thêu thùa lên những tấm trướng lộng lẫy.   Hay được nhắc đến trong nhiều tác phẩm của nhà văn Tchya, Lan Ngọc, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, .....   Nhưng có lẽ bài thơ "Nhớ rừng" của Thế Lữ được nhiều người nhắc đến nhiều nhất.   Nhiều câu truyện cổ tích cũng nhắc nhở đến hổ.  Như truyện "trí khôn của ta đây" giải thích lý do tại sao hổ lại có bộ lông vằn vện và trâu chỉ có một hàm răng.  Truyện "khỉ và hổ" giải thích nguyên do tại sao hổ lại ghét khỉ đến thế, và lý do tại sao khi chết khỉ thường nhăn răng ra.  Truyện "hổ và cóc" kể về sự tinh ranh của chú cóc đã lừa được hổ khiến hổ phải chịu thua.  Truyện "dê đội lốt cọp" ngụ ý nói những kẻ bất tài dù có dùng lớp vỏ để che đậy, nhưng khi gặp việc thì chẳng che dấu được sự kém cỏi của mình.

Giới bình dân thường có khuynh hướng gọi con bằng những tên gọi nôm na, mộc mạc.  Như đặt tên theo năm sinh.  Chả thế mà những tên "Dần", "Thìn", "Tý",... khá phổ biến.  Nếu lỡ sinh hai người con cùng tuổi cọp, thì đứa nhỏ hơn đương nhiên sẽ là "Dần Em" để phân biệt với thằng "Dần" anh hay nhỏ "Dần" chị.  Cũng có khi người ta đặt tên con là "Hổ", hàm ý mong muốn con mình sau này oai võ như cọp.   Tuy "cọp" cũng là tên gọi khác của hổ, nhưng hình như chưa có ai dùng tên này để đặt tên cho con cả.   Chẳng lẽ vì ... kiêng, e rằng sau này con mình lêu lổng ham chơi, chỉ ưa "cọp dê" bài vở chăng ?  Trong lịch sử, có vài nhân vật khá nổi tiếng có liên quan đến "hổ".  Như ông Lê Như Hổ, con nuôi của đức Tả quân Lê Văn Duyệt, nổi danh ăn khoẻ cùng có sức mạnh hơn người.  Ông Võ Tòng bên Trung Hoa cũng nổi tiếng với tài tay không đấm chết cọp.  Thời Tam quốc bên Trung Hoa, "Ngũ hổ đại tướng" (gồm Quan Vân Trường, Trương Dực Đức, Triệu Tử Long, Mã Mạnh Khởi và Hoàng Trung) đã lập nhiều công trạng oanh liệt, giúp Lưu Hoàng Thúc (Lưu Bị) hoàn thành đế nghiệp.  Hay như thời vua Sở Thành Vương bên Trung Hoa, nước Sở được cường thịnh là nhờ sự tài giỏi của Tể tướng Đấu Cấu Ô Đồ.  Tục truyền, ông vốn là con tư sinh của Đấu Bá Tỷ (dòng dõi Đấu Nhược Ngao) với em gái bạn dì (con vua nước Viên).   Khi vừa chào đời, ông bị Viên phu nhân (vợ vua nước Viên) cho là nghiệt chủng, nên sai người đem bỏ vào rừng.  Hai hôm sau, vua nước Viên tình cờ đi săn ngang qua, bắt gặp cảnh hổ ôm một trẻ sơ sinh cho bú.  Thấy lạ, vua sai đem về nuôi vì tin là quý tử.  Và đặt tên là Đấu Cấu Ô Đồ, vì theo tiếng nước Sở, Ô Đồ còn có nghĩa là cọp.   Ngoài nhà thơ Trần Dần nổi danh với những câu thơ bất hủ ra, còn có giai thoại văn chương về bài thơ đối đáp giữa nữ sĩ Hồ Xuân Hương cùng ông Phạm Đình Hổ mà nhiều người vẫn nhắc nhở.  Nhất là hai câu kết trong bài thơ đáp của ông Phạm Đình Hổ:
"Hang hùm ví bẵng không ai mó
Sao có hùm con bỗng trốc tay"

Tương truyền, khi cây cầu Bạch Hổ (lúc đó còn chưa được đặt tên) đang được xây cất, thì có một con hổ trắng đến ngồi ở giữa cầu khiến công nhân hoảng hốt bỏ cha.y.   Cũng chính vì thế mà cây cầu này được gọi là cầu Bạch Hổ.  Ngoài ra, còn có truyền thuyết, lúc chúa Nguyễn Ánh bị nhà Tây Sơn truy lùng, đuổi giết.  Gặp hoàn cảnh ngặt nghèo, hết cả lương thực.  May nhờ có thịt thú rừng do hổ tha tới tiếp tế mỗi ngày. Về sau, khi lên ngôi vua Gia Long (tức chúa Nguyễn Ánh) đã ban lệnh lập miếu thờ tại vùng Mô Xoài thuộc tỉnh Bà Rịa để tạ ơn.  Dân gian thường gọi là miếu Ông Hổ.  Tục truyền, vua ban lệnh cấm giết hổ.   Nếu kẻ nào lỡ tay giết chết hổ thì bị phạt ba mươi trươ.ng.  Còn nếu bắt sống thì được thưởng ba mươi quan tiền.  Cũng vì lệ này mà hổ còn được gọi là ông Ba Mươi.   Ở làng Thổ Tang thuộc tỉnh Vĩnh Yên, có miếu thờ Thần Hổ kiến trúc rất uy nghi.  Ngoài ra, Thần Hổ còn được thờ ở nhiều nơi khác nhau, nhất là trong các điện lên đồng bóng.

Theo tử vi Đông Phương, cứ mỗi 12 năm lại có năm Dần thuộc một trong ngũ hành (kim, mộc, thủy, hoả, thổ).  Cứ mỗi 60 năm thì lại trở về năm Dần cùng can, chi.  Như năm nay là Mậu Dần, sau 12 năm sẽ là Canh Dần (thuộc hành Mộc).  Cứ luân chuyển như thế đến đến 60 năm nữa sẽ lại là Mậu Dần thuộc hành Thổ.   Người xưa tin tưởng rằng hổ tượng trưng sức mạnh, nên thích hợp với phái nam.  Cho nên các tướng "hổ đầu" (đầu như đầu cọp), "hổ bộ" (bước đi oai vệ như cọp), "yến hàm, hổ đầu" (đầu cọp, hàm én) đều là những quý tướng của phái nam.  Chẳng thế mà thi hào Nguyễn Du đã diễn tả nét oai hùng của Từ Hải với hai câu: "Râu hùm, hàm én, mày ngài. Vai năm tấc rộng, lưng mười thước cao".  Người xưa còn tin rằng phái nữ sẽ bị cao số, chậm trễ trong việc lập gia đình nếu lỡ sinh vào năm Dần. Chẳng hiểu có đúng tại số.  Hay chỉ vì thành kiến xã hội, gán đặt cho các nàng tuổi Dần cái tính "hiền" như cọp cái khiến phe mày râu phải ngán sợ nên không dám toan tính việc "rước nàng dzìa dinh" ?  Ngoài các việc can, chi, hành ra, các bậc tiền nhân lại đặt thêm luật lệ "tứ hành xung", và "tam hợp".  Chẳng hạn, Dần, Thân, Tỵ, Hợi thì tứ hành xung.  Hay Dần, Ngọ, Tuất họp thành tam hợp.  Có thể hiểu nôm na là các vị tuổi Dần nên tránh xa những ai tuổi Thân, Tỵ, Hợi để tránh mọi việc phiền phức vì xung khắc.  Còn nếu gặp người tuổi Tuất hay tuổi Ngọ thì mọi việc sẽ thuận lợi hơn.   Nghe qua thì thấy chí lý, nhưng ngẫm nghĩ kỹ thì lại thấy sao sao đó.  Vì nếu bảo rằng hổ là khắc tinh của khỉ, rắn và heo nên là "tứ hành xung" thì còn hợp lý.  Chứ chó với ngựa cũng sợ hổ một phép thì can cớ chi có thể là "tam hợp" được ?

Mải vui nên bàn luận lanh quanh thế thôi.  Chẳng dám thắc mắc vớ vẩn thêm, kẻo lại bị mắng "dốt mà hay nói chữ".   Thôi thì tuân theo lời dạy "biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe", xin được tạm ngưng bài phiếm nơi đây.  Mến chúc các bạn, nhất là các bạn tuổi Dần, một năm mới vui vẻ, mạnh khoẻ như cọp.  Nhất là các bạn phe kẹp tóc, ăn nhiều, ngủ nhiều mà vẫn giữ được dáng uyển chuyển gọn gàng như hổ.  Các bạn phe húi cua thì phát tướng oai vệ theo kiểu "râu hùm, hàm én, mày ngài" khiến nhiều nàng phải ... rụng tim.

Tứ Diễm - Sep. 30, 1997
Bút Nhóm Nắng Mới

0 comments:

Post a comment

 
;